PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN LÀ GÌ ? HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG VỀ RỬA TIỀN – BÀI 1

Rửa tiền hiểu đơn giản là hành vi của cá nhân, tổ chức bằng nhiều cách hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản có được từ hành vi phạm pháp, biến những tài sản đó thành tài sản “hợp pháp” của họ.

Rửa tiền bắt nguồn từ thời cổ đại, khi những cá nhân có tài sản trái phép tìm cách giấu diếm tài sản của họ để tránh bị tịch thu tài sản, tránh bị đánh thuế của cơ quan công quyền.

Qua thời gian, hành vi rửa tiền ngày càng tinh vi hơn và gắn liền chặt chẽ với sự phát triển của ngành tài chính tiền tệ và ngân hàng. Các cá nhân, tổ chức rửa tiền đã dùng nhiều biện pháp khác nhau, đưa tiền vào lưu thông qua nhiều kênh khác nhau như thành lập công ty ma để kê khai các loại hàng hóa, dịch vụ mà thực tế hoàn toàn không có hoặc có nhưng khai báo giá hoàn toàn khác với thực tế, chuyển tiền từ nước này qua nước khác… và hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính tại các quốc gia bị ảnh hưởng  nhiều nhất của tội phạm rửa tiền lợi dụng nhiều nhất  .

Và thực tế là rất nhiều ngân hàng lao đao và mất uy tín và danh tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế vì dính líu đến những tội phạm rửa tiền và do những sơ hở trong quản lý rủi ro tuân thủ và phòng chống rửa tiền. Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp để hạn chế tiêu cực của nạn rửa tiền là yêu cầu cấp bách của chính phủ các nước và Việt Nam không phải là ngoại lệ.

NHỮNG NỀN TẢNG PHÁP LÝ ĐẦU TIÊN VỀ RỬA TIỀN Ở VIỆT NAM

Năm 1997, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật các Tổ chức tín dụng. Mặc dù chưa chính thức đề cập đến thuật ngữ “rửa tiền” nhưng Điều 19 Luật các tổ chức tín dụng 1997 đã đưa ra những quy định đầu tiên về trách nhiệm của các tổ chức tín dụng đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp.

“Điều 19. Trách nhiệm đối với các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp.

  1. Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp.
  2. Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Tháng 12/1999, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, trong đó có quy định hành vi rửa tiền trong các “Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (Điều 250) và “tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có” (Điều 251). Tiếp đó, Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC đã đưa ra khái niệm hướng dẫn về Tài sản do người khác phạm tội mà có:

“Tài sản do người khác phạm tội mà có” là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua).

Tuy nhiên, các quy định trên vẫn chưa mô tả hết hết hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là hành vi rửa tiền.

KHUNG PHÁP LÝ CHÍNH THỨC VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN Ở VIỆT NAM

Close-up side view of serious businesswoman working at office desk on laptop, typing and looking at screen, surrounded by diagrams and calculating charts. Business, finances, economics and technology

Ngày 7/6/2005, trong điều kiện chưa ban hành được Luật phòng chống rửa tiền, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Nghị định 74/2005/NĐ-CP về phòng chống rửa tiền, tạo ra cơ sở pháp lý đầu tiên điều chỉnh hoạt động phòng chống rửa tiền.

Tháng 6/2010, Quốc hội thông qua Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 với các quy định về trách nhiệm của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài liên quan đến việc phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Tiếp theo đó, những hướng dẫn đầu tiên về hoạt động phòng chống rửa tiền đã được các cơ quan nhà nước Việt Nam ban hành:

– Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 22/2009/TT-NHNN hướng dẫn các biện pháp phòng chống rửa tiền ở Việt Nam đối với các giao dịch tiền tệ và tài sản tại các Tổ chức tín dụng.

– Bộ Tài chính ban hành Thông tư 148/2010/TT-BTC hướng dẫn biện pháp phòng, chống rửa tiền đối với lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và trò chơi giải trí có thưởng

– Bộ Xây dụng ban hành Thông tư 12/2011/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 74/2005/NĐ-CP về phòng, chống rửa tiền đối với hoạt động kinh doanh bất động sản

– Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư 41/2011/TT-NHNN hướng dẫn nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng trên cơ sở rủi ro phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền

Tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố theo Quyết định số 1560/QĐ-TTG

Có thể nói rằng, những văn bản nêu trên là nền móng đầu tiên về khung pháp lý cho hoạt động phòng chống rửa tiền tại Việt Nam.Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ chỉ mang tính định hướng là chủ yếu, mà không có một chế tài thực sự để giám sát việc thực thi có hiệu quả đối với hoạt động rửa tiền.

HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN CHÍNH THỨC ĐƯỢC LUẬT HÓA

Serious middle aged businessman presenting company business goals to colleagues during meeting in boardroom, male coach training workers, explaining successful strategies on flipchart during briefing

Đến năm 2012, hoạt động phòng chống rửa tiền đã chính thức được luật hóa bằng sự ra đời của Luật phòng chống rửa tiền do Quốc hội ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Luật phòng, chống rửa tiền ra đời không chỉ tạo ra hành lang pháp lý về phòng, chống rửa tiền mà còn quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi rửa tiền; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống rửa tiền; hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền

Có thể nói sự ra đời của Luật phòng chống rửa tiền 2012 là cột mốc vô cùng quan trọng cho thấy cơ quan nhà nước Việt Nam ngày càng coi trọng vấn đề phòng chống rửa tiền trong xu thế hội nhập quốc tế. Các văn bản hướng dẫn luật lần lượt được ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết Luật phòng chống rửa tiền và sửa đổi các văn bản hướng dẫn trước đây như:

  • Nghị định 116/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật phòng, chống rửa tiền (thay thế Nghị định 74/2005/NĐ-CP)
  • Quyết định 20/2013/QĐ-TTg quy định mức giá trị của giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo
  • Thông tư 35/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định về phòng, chống rửa tiền
  • Thông tư 31/2014/TT-NHNN sửa đổi quy định về phòng, chống rửa tiền tại Thông tư 35/2013/TT-NHNN
  • Đặc biệt, ngày 17/10/2014, lần đầu tiên nhà nước Việt Nam đã đưa ra một số chế tài xử lý vi phạm về Nghị định 96/2014/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Nghị định 96 đã dành riêng một mục 12 quy định về các chế tài đối với các hành vi vi phạm quy định về phòng chống rửa tiền.

Điều 39. Vi phạm quy định về nhận biết và cập nhật thông tin khách hàng

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không cập nhật thông tin nhận biết khách hàng theo quy định tại Điều 8 và Điều 10 Luật Phòng, chống rửa tiền.

Điều 40. Vi phạm quy định về quy trình quản lý rủi ro các giao dịch liên quan tới công nghệ mới

Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không ban hành quy trình quản lý rủi ro các giao dịch liên quan tới công nghệ mới theo quy định tại Điều 15 Luật Phòng, chống rửa tiền.

Điều 41. Vi phạm quy định về phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro

  1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không áp dụng các biện pháp nhận biết khách hàng, biện pháp đánh giá tăng cường quy định tại cácKhoản 2, 3 và 4 Điều 12 Luật Phòng, chống rửa tiền.
  2. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không xây dựng quy định phân loại khách hàng, không phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro về rửa tiền theo quy định của pháp luật.

Điều 42. Vi phạm quy định về việc xác định khách hàng nước ngoài là cá nhân có ảnh hưởng chính trị

Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi không có hệ thống quản lý rủi ro để xác định khách hàng nước ngoài là cá nhân có ảnh hưởng chính trị theo quy định tại các Khoản 2, 3 Điều 13 Luật Phòng, chống rửa tiền.

Điều 43. Vi phạm quy định về rà soát khách hàng và giao dịch, quan hệ ngân hàng đại lý

  1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không rà soát khách hàng và các bên liên quan theo các danh sách cảnh báo trước khi thiết lập mối quan hệ hoặc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
  2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  3. a) Không áp dụng các biện pháp quy định tạiĐiều 14 Luật Phòng, chống rửa tiềnkhi thiết lập quan hệ ngân hàng đại lý với ngân hàng đối tác nước ngoài;
  4. b) Không báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật khi có khách hàng và bên có liên quan nằm trong các danh sách cảnh báo.

Điều 44. Vi phạm quy định về báo cáo giao dịch có giá trị lớn, giao dịch đáng ngờ, giao dịch chuyển tiền điện tử, báo cáo hành vi rửa tiền nhằm tài trợ khủng bố

  1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo đúng thời hạn quy định tạiĐiều 26 Luật Phòng, chống rửa tiền.
  2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  3. a) Không báo cáo các giao dịch có giá trị lớn;
  4. b) Không báo cáo các giao dịch đáng ngờ;
  5. c) Không báo cáo các giao dịch chuyển tiền điện tử.
  6. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo hành vi rửa tiền nhằm tài trợ khủng bố quy định tạiĐiều 30 Luật Phòng, chống rửa tiền.
  7. Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi không giám sát đặc biệt đối với các giao dịch có giá trị lớn bất thường hoặc phức tạp; giao dịch với tổ chức, cá nhân tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền hoặc danh sách cảnh báo theo quy định tạiĐiều 16 Luật Phòng, chống rửa tiền.

Điều 45. Vi phạm quy định về trì hoãn giao dịch, phong tỏa tài khoản; niêm phong hoặc tạm giữ tài sản

  1. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  2. a) Không báo cáo việc trì hoãn giao dịch khi các bên liên quan tới giao dịch thuộc danh sách đen hoặc có lý do để tin rằng giao dịch được yêu cầu thực hiện có liên quan đến hoạt động phạm tội quy định tạiKhoản 3 Điều 33 Luật Phòng, chống rửa tiền;
  3. b) Không báo cáo việc thực hiện phong tỏa tài khoản, niêm phong, tạm giữ tài sản khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tạiĐiều 34 Luật Phòng, chống rửa tiền.
  4. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  5. a) Không áp dụng biện pháp trì hoãn giao dịch khi các bên liên quan tới giao dịch thuộc danh sách đen hoặc có lý do để tin rằng giao dịch được yêu cầu thực hiện có liên quan đến hoạt động phạm tội quy định tạiKhoản 1 Điều 33 Luật Phòng, chống rửa tiền;
  6. b) Không phong tỏa tài khoản, không áp dụng biện pháp niêm phong hoặc tạm giữ tài sản khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tạiĐiều 34 Luật Phòng, chống rửa tiền.

Điều 46. Vi phạm quy định về các hành vi bị cấm trong phòng, chống rửa tiền

  1. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi cản trở việc cung cấp thông tin phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
  2. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  3. a) Thiết lập hoặc duy trì tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả;
  4. b) Cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác hoặc công cụ lưu trữ giá trị và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng tại một địa điểm khác.
  5. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
  6. a) Tổ chức hoặc tạo điều kiện thực hiện hành vi rửa tiền;
  7. b) Thiết lập và duy trì quan hệ kinh doanh với ngân hàng được thành lập tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhưng không có sự hiện diện hữu hình tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó và không chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý có thẩm quyền.
  8. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:
  9. a) Đề nghị hoặc yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp đình chỉ từ 01 tháng đến 03 tháng hoặc miễn nhiệm chức danh quản trị, điều hành, kiểm soát; không cho đảm nhiệm chức vụ quản trị, điều hành, kiểm soát tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với cá nhân vi phạm và/hoặc cá nhân chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 2, Khoản 3 Điều này.
  10. b) Yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cách chức và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật đối với cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Như vậy, đến thời điểm hiện nay các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống rửa tiền đã được ban hành tương đối đẩy đủ, đồng bộ, góp phần quan trọng cho các đối tượng báo cáo thực hiện các biện pháp phòng, chống rửa tiền và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm trong phòng, chống rửa tiền.

Tuy nhiên, thực tế triển khai áp dụng các quy định về phòng chống rửa tiền tại các tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụng nước ngoài còn khá nhiều bất cập. Nhiều vụ việc vi phạm về phòng chống rửa tiền trong hoạt động ngân hàng trên thế giới cho thấy hoạt động quản lý tuân thủ về phòng chống rửa tiền luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với uy tín và danh tiếng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng nói chung và các cá nhân liên quan từ những lãnh đạo cấp cao, các cán bộ quản lý tuân thủ đến tất cả các cán bộ nhân viên trực tiếp thao tác nghiệp vụ.

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động ngân hàng đã được phát hiện và xử lý nghiêm khắc. Chủ trương của ngân hàng nhà nước qua các cuộc hội nghị và cụ thể là tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ đã thể hiện quan điểm của Ngân hàng Nhà nước trong đề cao vai trò trách nhiệm của từng cá nhân và truy cứu đến cùng trách nhiệm của các cá nhân gây ra vi phạm.

ĐÀO TẠO VỀ AML – “PHÒNG BỆNH HƠN CHỮA BỆNH”

Modern devices, documents, eyeglasses on the foreground, unrecognized businessmen on the background

“Phòng bệnh hơn chữa bệnh” luôn luôn đúng với mọi hoạt động, mọi ngành nghề, nhưng nó đặc biệt đúng và cấp thiết đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng vì chỉ cần xảy ra một sai phạm nhỏ trong hoạt động phòng chống rửa tiền thì hậu quả khôn lường sẽ xảy ra đối với danh tiếng và hoạt động của các tổ chức tín dụng ở trong nước mà cả trên toàn thế giới, đặc biệt là những tổ chức tín dụng có mạng lưới ở nhiều quốc gia khác nhau.

Chính vì vậy, để đảm bảo phòng ngừa rủi ro về rửa tiền trong hoạt động của các tổ chức tín dụng đòi hỏi các lãnh đạo cấp cao của các tổ chức tín dụng phải thấy được tầm quan trọng của hoạt động phòng chống rửa tiền, vai trò quan trọng của cán bộ phụ trách công tác quản lý tuân thủ và phòng chống rửa tiền, trách nhiệm cá nhân của từng bộ phận tham gia hoạt động phòng chống rửa tiền.

Từ đó, không ngừng nghiên cứu tìm hiểu pháp luật trong nước và tập quán thông lệ quốc tế để nâng cao nhận thức, trình độ nghiệp vụ về tuân thủ và phòng chống rửa tiền, tổ chức đào tạo cho cán bộ nghiệp vụ phù hợp với từng đối tượng cán bộ nhân viên và tham gia các khóa đào tạo do ngân hàng nhà nước, các tổ chức trong nước và quốc tế tổ chức và tìm kiếm sự hỗ trợ của hệ thống công nghệ thông tin để phòng ngừa và hạn chế tối đa nguy cơ tiềm ẩn rủi ro về rửa tiền có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Đội ngũ Compic Train

Email: info@compictrain.com

ĐT liên hệ: +84 789.339.739

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

twelve − 5 =

Hotline: +84789339739
SMS: +84789339739 Message facebook Zalo: +84789339739